Hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các biện pháp xử lý

Vietlinklaw > Tư vấn pháp luật  > Hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các biện pháp xử lý

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các biện pháp xử lý

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã và đang mang đến rất nhiều tác động tiêu cực đối với nền kinh tế, doanh nghiệp và cả người tiêu dùng ở nước ta. Trên thực tế, những hành vi này xuất hiện rất phổ biến và khó kiểm soát được. Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam đã có những chế tài để xử lý những hành vi này. Hãy cùng chúng mình tìm hiểu rõ hơn trong bài viết này nhé!

1. Thế nào là hình vi cạnh tranh không lành mạnh?

Theo quy định tại Khoản 6, Điều 3 của Luật Cạnh tranh Việt Nam 2018, cạnh tranh không lành mạnh là hành vi doanh nghiệp làm trái với các nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và những chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây ra thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác.

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh 2

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Từ định nghĩa được nêu trên có thể thấy hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những đặc điểm sau:

  • Hành vi hướng đến mục đích cạnh tranh.
  • Hành vi nhằm vào đối thủ cạnh tranh cụ thể.
  • Hình vi đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc đi ngược lại với các tiêu chuẩn đạo đức, tập quán tốt đẹp của nước ta.
  • Hành vi đã và sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra tác động tiêu cực, tổn hại cho đối thủ cạnh tranh, đồng thời, thông qua đó tìm cách tạo cho mình những lợi ích hoặc thế mạnh bất chính.

Như vậy, có thể thấy không phải tất cả hành vi xâm hại đến lợi ích của doanh nghiệp đều được xếp vào nhóm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Chỉ có những hành vi xuất phát từ một chủ thể đối với đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan (thị trường địa lý liên quan và thị trường sản phẩm liên quan) trực tiếp hoặc gián tiếp gây tổn hại cho đối thủ cạnh tranh cửa mình thì khi đó mới bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

2. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định pháp luật

Theo quy định tại Điều 130, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và được sửa đổi, bổ sung vào năm 2009, các hành vi bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:

  • Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây ra sự nhầm lẫn về hoạt động kinh doanh, chủ thể kinh doanh và nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ.
  • Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây ra sự nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, chất lượng, số lượng, tính năng hoặc các đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
  • Hành vi sử dụng nhãn hiệu đã được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện/đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Việt Nam cũng là thành viên trong đó, nếu người sử dụng là người đại diện/đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đó và việc sử dụng này cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng.
  • Hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây ra sự nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại đã được bảo hộ của người khác hoặc đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hay sử dụng chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hay làm thiệt hại đến uy sự tín và danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.

Còn theo Điều 45, Luật cạnh tranh 2018 thì các hành vi cạnh tranh không lành manh bị cấm bao gồm:

  • Hành vi xâm phạm đến thông tin bí mật trong kinh doanh dưới các hình thức bào gồm:

–  Tiếp cận, thu thập thông tin liên quan đến bí mật trong kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu thông tin đó

– Tiết lộ, sử dụng các thông tin bí mật trong kinh doanh mà không được sự cho phép của chủ sở hữu thông tin đó.

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh 2

Xâm phạm bí mật kinh doanh là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh

  • Hành vi ép buộc khách hàng hay đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng các hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ ngừng giao dịch hoặc không giao dịch hoặc với doanh nghiệp đó.
  • Hành vi cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp đưa thông tin không trung thực về doanh nghiệp gây ảnh hưởng xấu đến sự uy tín, tình trạng tài chính hoặc các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.
  • Hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn các hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp đó.
  • Hành vi lôi kéo khách hàng bất chính bằng các hình thức sau đây:

– Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc dịch vụ, hàng hóa, khuyến mại, các điều kiện giao dịch liên quan đến dịch vụ, hàng hóa mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác.

– So sánh dịch vụ, hàng hóa của mình với dịch vụ, hàng hóa cùng loại của doanh nghiệp khác nhưng không chứng minh được nội dung.

  • Hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến việc loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó.
  • Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm theo quy định của các luật khác.

3. Các biện pháp xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Dựa vào nội dung tại Khoản 1 Điều 199 của Luật Sở hữu trí tuệ, thì tùy theo tính chất, và mức độ xâm phạm, vi phạm hoặc tranh chấp về sở hữu trí tuệ, các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ áp dụng đối với tổ chức, cá nhân xâm phạm bao gồm:

  • Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh bằng biện pháp hành chính

Điều 26 Nghị định số 75/2019/NĐ-CP chỉ quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.

Nội dung tại khoản 3, Điều 211 của Luật Sở hữu trí tuệ quy định, tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh”.

Khoản 3, Điều 198 của Luật này cũng quy định rõ: tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nhà nước áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật này và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

Qua các quy định nêu trên có thể hiểu, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ được xác định theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật này; còn chế tài, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt đối với các hành vi này được quy định và thực hiện theo Luật Cạnh tranh và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật này.

  • Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh bằng biện pháp dân sự

Theo quy định tại Điều 202, Luật sở hữu trí tuệ, các biện pháp dân sự bao gồm:

+ Buộc phải chấm dứt ngay các hành vi xâm phạm.

+ Buộc phải xin lỗi và đưa ra thông tin cải chính công khai.

+ Buộc phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự.

+ Buộc phải bồi thường thiệt hại cho đối tượng bị hại

+ Buộc phải tiêu huỷ, phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với các hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu nhằm để sản xuất kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

Các biện pháp này được thực hiện theo trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Theo quy định tại Điều 203 của Luật Sở hữu trí tuệ thì tổ chức cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự để giải quyết. Tuy nhiên  các tổ chức, các nhân đó phải có nghĩa vụ chứng minh được mình chính là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đí, đồng thời phải cung cấp các chứng cứ về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Nghĩa vụ chứng minh trên được thực hiện theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Đương sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp cho tòa án, ngoại trừ các trường hợp người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

  • Biện pháp hình sự

Biện pháp hình sự đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh chính là biện pháp xử lý nghiêm khắc nhất. Thông thường, các hành vi áp dụng biện pháp hình sự phải có tính chất mức độ gây nguy hiểm cao cho xã hội tới mức bị coi là tội phạm. Việc áp dụng biện pháp hình sự là biện pháp nghiêm khắc và có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa và xử lý tội phạm. Biện pháp hình sự có tác động rất lớn vào ý thức của người dân trong việc chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ, góp phần bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu và người tiêu dùng.

Luật Sở hữu trí tuệ cũng có quy định các biện pháp khác mang tính chất hỗ trợ áp dụng cho 3 loại chế tài nói trên trong những trường hợp cần thiết, bao gồm: biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử phạt hành chính.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

4. Trình tự, thủ tục khiếu nại hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Bước 1: Nộp đơn khiếu nại

  • Tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh có quyền thực hiện khiếu nại vụ việc cạnh tranh đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.

Thời hiệu khiếu nại là 3 năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện.

  • Hồ sơ khiếu nại bao gồm:

– Đơn khiếu nại làm theo mẫu do Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia ban hành

– Các chứng cứ, tài liệu chứng minh những nội dung khiếu nại, tố cáo có căn cứ và hợp pháp.

– Các thông tin, chứng cứ liên quan khác mà bên khiếu nại cho rằng chúng là cần thiết để giải quyết vụ việc này.

Bên khiếu nại phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của các thông tin, chứng cứ đã cung cấp cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.

Đơn khiếu nại vụ việc cạnh tranh

Đơn khiếu nại vụ việc cạnh tranh

Bước 2: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận và xem xét hồ sơ

Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ khiếu nại, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có trách nhiệm xem xét tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ khiếu nại.

Bước 3: Xác nhận từ cơ quan có thẩm quyền về vụ việc cạnh tranh

Khi hết thời hạn 07 ngày được nói ở trên nếu nhận định hồ sơ trên là đầy đủ, hợp lệ thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sẽ tiến hành thông báo cho bên khiếu nại về việc tiếp nhận hồ sơ đồng thời cũng thông báo cho bên bị khiếu nại được biết.

Tiếp tục trong thời hạn 15 ngày tiếp theo kể từ ngày đưa ra thông báo trên nếu xét thấy trường hợp hồ sơ khiếu nại không đáp ứng yêu cầu về hồ sơ thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thông báo bằng văn bản về việc bổ sung hồ sơ khiếu nại cho bên khiếu nại.

Việc bổ sung hồ sơ khiếu nại phải thực hiện trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo yêu cầu bổ sung hồ sơ.

5. Căn cứ pháp lý

– Nội dung Luật cạnh tranh năm 2018.

– Nội dung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

– Nội dung Bộ luật dân sự năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Bộ luật hình sự năm 2015.

– Nghị định số 99/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

– Nghị định số 75/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh.

6. Tổng kết

Trên đây là các quy định của pháp luật liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng như những biện pháp xử lý chúng. Nếu cần thêm bất cứ thông tin tư vấn nào, quý khách hãy liên hệ ngay cho chúng tôi qua:

Công ty Luật Vietlink

▪ Địa chỉ: P203 tòa nhà Giảng Võ Lake View, D10 Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội

▪ Hotline: 0914.929.086

▪ Email: hanoi@vietlinklaw.com

▪ Website: vietlinklaw.vn

Bài viết liên quan